Bệnh lý trầm cảm

Tổng quan về trầm cảm

Trầm cảm là một căn bệnh phổ biến nhưng rất phức tạp và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, cần được điều trị như các bệnh lý khác. Tuy nhiên, rất nhiều người trong số chúng ta chưa hiểu rõ về căn bệnh này.

Trầm cảm là một rối loạn khí sắc, gây cảm giác buồn chán, mất hứng thú kéo dài dai dẳng. Sự rối loạn này không chỉ ảnh hưởng tới tâm trạng, cảm nhận, cách hành xử mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe, thể chất. Trầm cảm có thể gây khó khăn cho chúng ta trong giao tiếp, làm việc, thậm chí có thể dẫn tới ý định tự tử.

Những ai dễ mắc trầm cảm?

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm là căn bệnh phổ biến nhất trên toàn thế giới và đứng thứ hai trong gánh nặng bệnh lý toàn cầu, chỉ sau bệnh lý mạch vành. Ước tính trên thế giới có khoảng 350 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm.

Hậu quả nghiêm trọng nhất của trầm cảm chính là hành vi tự sát. Theo thống kê tại Việt Nam, số người tự tử hàng năm lên tới 36.000-40.000 người, cao gấp 3-4 lần số ca tử vong do tai nạn giao thông. Trầm cảm chịu trách nhiệm cho 75% các vụ tự tử kể trên, còn lại 22% là do nghiện rượu, ma túy, cờ bạc và chỉ có 3% do tâm thần phân liệt, động kinh.

Tổng quan về trầm cảm

Theo thống kê, đến 80% dân số sẽ bị trầm cảm vào một lúc nào đó trong cuộc sống của mình. Một số đối tượng sau có thể dễ gặp phải trầm cảm hơn:

  • Trầm cảm ở phụ nữ: tỉ lệ mắc trầm cảm ở nữ giới cao hơn nam giới, thường gặp nhất là trầm cảm sau sinh.
  • Trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên: do áp lực học tập, hoàn cảnh gia đình thay đổi (bố mẹ ly hôn, bị bỏ rơi, thay đổi nơi ở), thay đổi tâm sinh lý tuổi dậy thì…
  • Trầm cảm ở những người làm các công việc có cường độ làm việc và áp lực lớn như y bác sỹ, người làm công việc quản lý, công nhân mỏ than…
  • Trầm cảm ở người già: người già có tỉ lệ mắc trầm cảm cao (~16%) do một số yếu tố như bệnh lý mạn tính, do cảm giác cô đơn, mất người bạn đời,…
  • Trầm cảm ở những người mắc bệnh nội khoa như: bệnh lý tim mạch, nội tiết, thần kinh, ung thư, bệnh truyền nhiễm…Bệnh cảnh dễ làm nảy sinh trầm cảm và ngược lại, trầm cảm có thể làm cho bệnh có xu hướng nặng thêm và tăng nguy cơ tử vong.

Như vậy có thể thấy trầm cảm là một căn bệnh rất phổ biến, ai cũng có thể mắc trầm cảm. Tuy nhiên, trên thực tế có tới 80% người mắc trầm cảm không được phát hiện. Điều đó có nghĩa là trong 10 người mắc trầm cảm thì chỉ có 2 người là được phát hiện và điều trị. Ngoài những lý do về mặt nhận thức, tâm lý xấu hổ, sợ bị kỳ thị đối với bệnh trầm cảm thì một nguyên nhân quan trọng không kém khiến cho bệnh trầm cảm không được phát hiện sớm đó là những triệu chứng bệnh rất dễ nhầm lẫn vào các bệnh lý khác.

Dấu hiệu nhận biết trầm cảm

Ở giai đoạn đầu, trầm cảm thường khó phát hiện, dễ bị bỏ sót do triệu chứng rất phân tán. Bệnh nhân thường có những biểu hiện toàn thân như: đau ngực, mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, đau lưng, khó thở, mất ngủ, đau bụng, tê cóng…Điều này khiến cho bệnh nhân rất khổ sở vì đi thăm khám nhiều chuyên khoa khác nhau mà không tìm được nguyên nhân gây bệnh cụ thể. Theo thống kê có tới 88% bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tâm thần thăm khám ở cơ sở khám chữa bệnh ban đầu thay vì chuyên khoa tâm thần.

Tổng quan về trầm cảm

Dù biểu hiện đa dạng, vẫn có những triệu chứng phổ biến của trầm cảm bao gồm:

  • Vấn đề với giấc ngủ: khó ngủ, mất ngủ trong thời gian dài hoặc ngủ nhiều.
  • Vấn đề về ăn uống: cảm giác chán ăn, ăn không ngon thường xuyên hoặc ăn nhiều quá mức.
  • Cơ thể khó chịu, tâm thần bất an: luôn cảm thấy bồn chồn, bứt rứt khó chịu, không thoải mái và lo lắng.
  • Ngại giao tiếp xã hội: không muốn nói chuyện, tiếp xúc với những người xung quanh
  • Chậm chạp, chán nản, không có hứng thú với bất kỳ điều gì.
  • Luôn bi quan trong mọi việc, cảm thấy mọi thứ sẽ tồi tệ.
  • Tự ti về bản thân: luôn lo lắng bản thân kém cỏi, cảm thấy mình vô dụng, sợ hãi.
  • Có ý nghĩ về tự tử hoặc đã từng tự tử.

Nếu bạn có từ 1-3 triệu chứng trên và nó kéo dài trong ít nhất 2 tuần thì có thể bạn đang gặp vấn đề với trầm cảm.

Chuẩn đoán trầm cảm được thực hiện như thế nào

Trầm cảm là một bệnh lý phức tạp và cần phải được điều trị giống như bất kỳ bệnh lý thông thường nào khác. Chứng trầm cảm nếu không được chữa trị có thể ảnh hưởng tới tinh thần, thể chất và nhiều vấn đề khác trong cuộc sống. Thậm chí, trầm cảm nặng còn có thể dẫn tới tự tử. Chính vì vậy, khi có các biểu hiện triệu chứng nên thăm khám bác sỹ càng sớm càng tốt để được chuẩn đoán và điều trị. Bác sỹ sẽ chuẩn đoán trầm cảm chủ yếu thông qua hỏi triệu chứng và tiền sử bệnh, gia đình. Ngoài ra, xét nghiệm máu có thể được thực hiện để loại trừ một số bệnh lý khác như:

  • FBS: tầm soát tiểu đường
  • CRX: bệnh lao
  • Anti-HCV: viêm gan C
  • TSH: bệnh lý tuyến giáp
  • NGFL, B12, folate

Điều trị trầm cảm với thuốc

Thuốc điều trị trầm cảm được sử dụng phổ biến nhất là SSRI (thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên Serotonin) do dễ sử dụng và ít tác dụng không mong muốn hơn. Các nhóm thuốc khác được sử dụng trong điều trị trầm cảm là thuốc chống trầm cảm ba vòng, MAOIs, thuốc chống tầm cảm không điển hình. Ngoài ra, bác sỹ có thể phối hợp thêm thuốc an thần, chống lo âu trong thời gian ngắn để cải thiện triệu chứng tốt hơn.

Đáp ứng của mỗi người với một loại thuốc là khác nhau, vì vậy bác sỹ có thể phải thay đổi nhiều loại thuốc để tìm ra thuốc thực sự thích hợp với từng bệnh nhân. Hơn nữa, thuốc chống trầm cảm cần một khoảng thời gian đủ dài (từ 3-4 tuần) để cho thấy được hiệu quả điều trị, và có thể bạn sẽ gặp một số tác dụng không mong muốn trong một vài tuần đầu tiên sử dụng thuốc. Chính vì vậy, việc điều trị đòi hỏi ở bạn sự kiên trì, tái khám đúng lịch hẹn của bác sỹ. Theo thống kê, có tới 80% bệnh nhân đáp ứng tốt với thuốc điều trị trầm cảm, do đó hãy tin tưởng vào phác đồ điều trị mà bác sỹ cung cấp cho bạn.

Tuyệt đối KHÔNG nên tự ý ngừng thuốc đột ngột vì nó có thể làm các triệu chứng trầm cảm đột ngột xấu đi, thậm chí dẫn tới nguy cơ tự tử. Khi cần ngừng thuốc trầm cảm, bạn hãy trao đổi với bác sỹ để được hướng dẫn giảm liều dần dần.

Tóm lại, trầm cảm là một bệnh lý, không phải là một sự yếu đuối về nhân cách hay thiếu ý chí và nó cần được nhìn nhận cũng như điều trị giống các bệnh lý thông thường khác. Đây là một bệnh lý mạn tính, cần điều trị lâu dài, đòi hỏi bệnh nhân phải kiên trì cũng như cần có sự thấu hiểu, hỗ trợ, động viên từ người thân.

BS. Lê Đình Phương

Trưởng khoa nội tổng quát và YHGĐ – Bệnh viện FV

Trích bài giảng cho bác sỹ gia đình- BV ĐH Y dược TP.HCM